Nhận định tình hình sâu bệnh hại lúa vụ mùa 2012
10:12' 13/6/2012
Căn cứ vào các yếu tố thời tiết, thời vụ gieo trồng và nguồn sâu bệnh chuyển vụ, chúng tôi nhận định tình hình sâu bệnh hại lúa vụ mùa 2012 sẽ phát sinh, phát triển và gây hại với quy mô, mức độ tương đương vụ mùa năm 2011, tập trung một số đối tượng sau:

* Sâu cuốn lá nhỏ: Là tối tượng có khả năng gây hại nặng trên lúa mùa, nhất là lứa 4 và lứa 5, cần được quan tâm phòng trừ. Trưởng thành lứa 4 sẽ ra rộ từ giữa đến cuối tháng 6, sâu non gây hại chủ yếu trên lúa mùa sớm, mạ mùa trung vào cuối tháng 6, đầu tháng 7, đồng thời tích luỹ và gây hại nặng ở lứa sau. Bướm lứa 5 ra rộ khoảng cuối tháng 7 đến đầu tháng 8; sâu non gây hại từ giữa tháng 8 trở đi trên trà mùa sớm giai đoạn đứng cái – làm đòng, trà mùa trung giai đoạn cuối đẻ; lứa này quy mô gây hại lớn nhất trong vụ, mức độ hại từ trung bình đến nặng. Ngoài ra, trưởng thành lứa 6 ra rộ khoảng cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, sâu non gây hại từ giữa tháng 9 trở đi trên lúa mùa trung giai đoạn làm đòng - trỗ, mùa muộn giai đoạn đẻ nhánh, lứa này thường gây hại nhẹ hơn. Dự kiến diện tích cần phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ khoảng 15.000 ha.

  * Sâu đục thân bướm 2 chấm: Có 3 lứa gây hại trong vụ. Lứa 3: Trưởng thành ra rộ khoảng giữa tháng 6, sâu non gây hại nhẹ trên mạ và lúa mùa sớm, đồng thời tích luỹ mật độ gây hại nặng ở lứa sau; Lứa 4: Trưởng thành ra rộ khoảng cuối tháng 7, đầu tháng 8, sâu non gây hại trên trà lúa mùa sớm trỗ vào giữa tháng 8, mức độ hại nhẹ đến trung bình, cục bộ hại nặng, đây là lứa sâu cần quan tâm nhất trong vụ; Lứa 5: Trưởng thành ra rộ khoảng xung quanh giữa tháng 9, sâu non gây hại chủ yếu trên trà lúa mùa muộn, mức độ hại trung bình đến nặng trên các ruộng trỗ sau của trà muộn. Dự kiến diện tích cần phòng trừ trong cả vụ khoảng 1.000 ha

* Rầy các loại: Có 2 lứa chính gây hại trong vụ. Lứa 5: Rầy cám ra rộ khoảng cuối tháng 7, đầu tháng 8 và gây hại nhẹ trên trà mùa sớm, tích luỹ mật độ gây hại ở lứa sau; Lứa 6: Rầy cám ra rộ khoảng đầu tháng 9 và gây hại trên lúa mùa sớm giai đoạn trỗ - chín, lúa mùa trung giai đoạn làm đòng - trỗ, mức độ hại nhẹ đến trung bình, cục bộ hại nặng gây cháy chòm, ổ, đây là lứa gây hại chính trong vụ. Dự kiến diện tích cần phòng trừ trong cả vụ khoảng 3.000 ha.

* Bệnh khô vằn: Phát triển trên diện rộng tất cả các trà, mức độ gây hại trung bình, cục bộ ổ nặng. Thời gian phát sinh, gây hại mạnh từ giữa tháng 8 tới cuối tháng 9 giai đoạn lúa làm đòng, trỗ, chín sáp, đặc biệt trên các ruộng thâm canh cao, ruộng dộc chua, ruộng cao hạn. Dự kiến diện tích cần phòng trừ trong cả vụ khoảng 8.000 ha.

* Bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn: Là đối tượng dễ gây bùng phát đột biến theo điều kiện thời tiết, đề phòng nhiệt độ cao, có mưa bão lớn bệnh phát sinh gây hại nặng. Thời gian bệnh phát sinh, gây hại thường tập trung trong tháng 8, 9 trên lúa mùa sớm, mùa trung giai đoạn làm đòng - trỗ - chín. Dự kiến diện tích cần phòng trừ trong cả vụ khoảng 1.500 ha.

 Ngoài ra:  Bệnh sinh lý phát triển, gây hại các trà lúa ở giai đoạn đầu vụ và giai đoạn lúa đứng cái, trên các ruộng dộc chua, ruộng khi gặt để rạ cao, ruộng bón phân chưa hoai mục và những ruộng làm đất, cày bừa không kỹ. Chuột gây hại liên tục trong cả vụ, cần chú ý quan tâm trà sớm và trà cực muộn trên các chân ruộng ven làng, ven đồi gò, ven bờ mương. Ốc bươu vàng gây hại các trà lúa giai đoạn cấy - đẻ nhánh, mức độ hại nhẹ đến trung bình, cục bộ hại nặng trên các ruộng gieo thẳng và ruộng trũng nước. Bọ xít dài gây hại trên trà lúa giai đoạn trỗ - chắc xanh, mức độ hại trung bình, cục bộ ổ nặng trên các ruộng ven đồi rừng, ruộng trỗ sớm, cực muộn. Bệnh đen lép hạt gây hại cục bộ trên trà mùa sớm giai đoạn trỗ - chắc xanh, trên các giống lúa chất lượng cao. Bọ trĩ, ruồi đục nõn gây hại nhẹ đầu vụ. Bệnh virus lùn sọc đen phát sinh từ đầu đến cuối vụ nhưng chủ yếu hại ở giai đoạn đẻ nhánh đến trỗ.

Để bảo vệ an toàn cho sản xuất, hạn chế tối đa thiệt hại do sâu bệnh gây ra ở vụ mùa, trước hết các địa phương cần chỉ đạo bà con nông dân đẩy mạnh áp dụng biện pháp canh tác lúa cải tiến SRI (cấy mạ non, cấy thưa, bón phân cân đối NPK, bón sớm và bón tập trung,...) giúp cây lúa khoẻ, tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận của thời tiết và các đối tượng sâu bệnh. Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện kịp thời và phòng trừ có hiệu quả các đối tượng sâu bệnh không để bùng phát thành dịch hoặc gây hại trên quy mô lớn làm giảm năng suất và sản lượng. 

                                                                                                                            KS. Trần Thái Ninh