KỸ THUẬT THÂM CANH LÚA CẢI TIẾN SRI
8:8' 17/6/2010
Nông dân Phú Thọ triển khai cấy SRI


    Thâm canh lúa cải tiến SRI là phương pháp canh tác dựa trên các cơ sở khoa học xuất phát từ thực tế sản xuất lúa hiện nay. Bởi một số biện pháp canh tác truyền thống của bà con nông dân đã cản trở và làm giảm sức sống tiềm năng của cây lúa. Cụ thể: Nông dân thường gieo mạ dược, nhổ đi cấy khi cây mạ 4- 5 lá thậm chí còn già hơn; thường cấy 3 - 5 rảnh/ khóm, và cấy 45 - 50 khóm/ m. Biện pháp này đã làm cho cây mạ bị đứt rễ, gây chột, lâu hồi xanh, dẫn đến đẻ nhánh kém, số rảnh hữu hiệu thấp và bông nhỏ, hạt ít. Mặt khác, bà con nông dân thường bón đạm cao hơn so với nhu cầu của cây lúa và không cân đối với Kali. Việc bón đạm quá nhiều, đạm không được vùi sâu dễ bị mất đạm do bị rửa trôi, bị bay hơi, quan trọng hơn là đa phần bón không đúng thời điểm cây cần bón, thường bón phân muộn, bón lai rai nhiều lần, cây lúa không đẻ tập trung, nhiều rảnh vô hiệu, dẫn đến năng suất thấp. Việc cấy mau, bón phân lai rai, bón nhiều phân và lạm dụng phân đạm cũng là nguyên nhân gây bùng phát các loại sâu bệnh hại. Hệ luỵ của những việc trên còn làm cho đất canh tác ngày càng xấu, ngộ độc đất ngày càng tăng, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng, năng suất lúa ngày càng giảm. 
    Hệ thống thâm canh lúa cải tiến là thực hiện tổng hợp các biện pháp: Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM); quản lý dinh dưỡng (INM) và quản lý nước (IWM). Thực tiễn cho thấy, cây lúa chỉ khoẻ mạnh và cho năng suất cao khi cây có bộ rễ khoẻ mạnh, phát triển tốt; cây đẻ nhiều nhánh và đẻ tập trung giai đoạn đầu; mỗi khóm lúa có nhiều bông và tỷ lệ hạt chắc trên bông cao. Để đạt được mong muốn trên, bà con nông dân nên áp dụng những nguyên tắc cơ bản của SRI: Cấy mạ non; Cấy một rảnh, cấy thưa; Quản lý nước; Làm cỏ sục bùn; Bón phân hữu cơ.

     Qua 5 vụ triển khai trên địa bàn tỉnh, Chi cục Bảo vệ thực vật đã tiến hành rất nhiều thí nghiệm nghiên cứu nhỏ trên đồng ruộng tại tất cả các huyện, thành, thị trong tỉnh. Từ thí nghiệm các tuổi mạ, mật độ cấy khác nhau, đến liều lượng các loại phân bón trên nhiều loại giống lúa. Kết quả cho thấy các mô hình áp dụng SRI đã tiết kiệm 50% lượng giống đối với lúa lai và đến 80% lượng giống lúa thuần so với cấy tập quán; cụ thể SRI chỉ cần gieo 0,5 kg thóc giống cho 1 sào cấy ( Kể cả lúa thuần hoặc lúa lai). Trong khi đó làm theo tập quán phải sử dụng giống là 1- 1,2 kg/ sào với lúa lai, từ 2 - 2,5 kg/sào với lúa thuần. Giảm nước tưới 2 lần/vụ tương đương giảm 30 - 40% chi phí bơm nước. Do cấy thưa và bón phân cây đối cây lúa khoẻ, xuông cây, các loại sâu bệnh như cuốn lá, khô vằn, rầy các loại rất nhẹ, bình quân giảm 2 lần phun thuốc/ vụ. Năng suất tăng bình quân với lúa lai từ 0,6 - 11,5 tạ/ha và từ 2 - 5 tạ/ha với lúa thuần. Giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.

     Về kỹ thuật SRI khá đơn giản, bà con nông dân rất dễ áp dụng, cụ thể:

  1/ Làm mạ: Chỉ cần gieo 0,5 kg thóc giống cho 1 sào cấy, mạ ngâm ủ bình thường như bà con vẫn làm. Chuẩn bị 4 - 5mđất gieo, đất phải nhuyễn bùn, sạch cỏ, luống rộng 1 - 1,2 m, rãnh rộng 20 - 30 cm, sâu 10 - 25 cm mặt luống phẳng không đọng nước, bón lót cho 100 m2  từ 4 - 5kg supe lân khi làm đất mạ ( không nên bón đạm cho mạ). Vụ mùa nên chọn đất vàn, vàn cao dễ thoát nước; Vụ chiêm xuân chọn đất vàn, vàn trũng để dễ tưới đủ ẩm và chống rét cho mạ. Cũng có thể làm mạ trên nền đất cứng: Lấy bùn trên ruộng lúa, rải đều trên nền đất cứng hoặc sân gạch dày từ 3 -3,5cm, luống rộng 1 -1,2 m. Lưu ý khi gieo mạ phải đều tay, hạt giống phải chìm để chống chim, chuột, chống nắng và chống rét.

   2/ Làm đất ruộng cấy: Cày bừa kỹ, nhuyễn bùn, sạch cỏ, kéo phẳng, luống rộng 2m, rãnh 25 - 30cm, sâu 10 - 15cm để tiện cho việc rút cạn nước, đi lại chăm sóc, bón phân và thu diệt ốc bươu vàng. Cách làm rãnh có thể cho một ít đất cát hoặc gạch đá vừa phải vào bao tải, sau khi làm đất kỹ kéo theo dây định khoảng cách luống sẵn, cách làm này nhanh đỡ tốn công. Nên làm đất trước khi cấy 1 ngày để bùn lắng, mực nước 1 - 2 cm để dễ cấy.

   3/ Kỹ thuật cấy: Cấy mạ non, cấy thưa, cấy thẳng hàng. Tuổi mạ khi cấy từ 2 -2,5 lá ( Vụ mùa chỉ sau gieo 6 - 7 ngày). Mật độ cấy với lúa lai, ruộng đất tốt cấy 30 khóm/ m; lúa thuần, ruộng đất xấu cấy 35 khóm/ mvà đều chỉ cấy 1 dảnh/ khóm. Lưu ý: Khi cấy hạn chế mạ bị tổng thương bộ rễ, dùng xẻng xúc nhẹ nhàng từng miếng đất mạ, vận chuyển tránh dập nát, xúc đến đâu cấy ngay đến đó không nên để mạ qua đêm, khi cấy dùng tay tách từng dảnh có một chút đất đặt nhẹ nhàng trên mặt ruộng, không được nhổ mạ đem cấy.

    4/ Làm cỏ, sục bùn: Sau khi cấy 6 - 7 ngày phải sục bùn, làm cỏ, kết hợp với bón phân thúc đẻ lần 1. Không nên phun thuốc trừ cỏ vì sẽ làm ảnh hưởng quá trình đẻ các dảnh hữu hiệu trong 15 ngày đầu và rất độc hại với con người, gây ô nhiễm môi trường.

    5/ Bón phân: Phải bón cân đối đạm, lân, kali, bón  đúng cách, đúng thời điểm cây cần. Cụ thể:

      + Bón lót: Tận dụng các nguồn phân hữu cơ, phân chuồng hoai mục lượng từ 200 - 300 kg/ sào, vôi 15 - 20 kg/ sào bón khi bừa vỡ. Sau bừa cấy lần cuối bón lót NPK 15 kg/ sào hoặc Phân khoáng hữu cơ 4 kg/ sào; phân đạm từ 1,5 - 2 kg/ sào.

       + Bón thúc đẻ: Bón rất sớm so với tập quán, sau cấy 6 - 7 ngày phải bón thúc lượng đạm với lúa lai 4,5 kg/sào; lúa thuần 2 - 3 kg/ sào và 2 - 3 kg Kali/ sào kết hợp làm cỏ, sục bùn để phá váng, vùn phân xuống sâu. Lưu ý: Nếu đất pha cát nhiều thì chia lượng đạm thành 2 lần bón cách nhau 10 ngày để hạn chế lượng đạm bị rửa trôi.

       + Bón đón đòng: Nên bón đón đòng sớm, thời điểm sau cấy với vụ mùa khoảng 40 ngày là thích hợp, khi 10% dảnh cái đầu lá có hiện tượng thắt eo, nên bón lượng đạm từ 2 - 2,5 kg/ sào, kết hợp với phân Kali từ 2 - 2,5 kg/ sào. Lưu ý: Bà con nông dân thường có tập quán khi bóc dảnh cái thấy giống cứt gián hoặc đòng to rồi mới bón đón đòng là đã muộn, bông lúa nhỏ, kéo dài thời gian sinh trưởng và làm cho cây lúa dễ bị sâu bệnh giai đoạn này.

     6/ Điều tiết nước: Từ khi cấy đến khi kết thúc đẻ lần 1 phải luôn duy trì có nước láng bề mặt ruộng. Sau khi bón phân thúc đẻ khoảng 5 ngày tiến hành tháo cạn chỉ cần giữ cho ruộng đủ ẩm; chỉ tưới khi mặt ruộng khô nẻ, tưới theo phương pháp tưới tràn. Khi cây lúa phân hoá đòng đến khi chín sáp nên giữ mực nước trên ruộng khoảng 3 - 4cm. Trước khi thu hoạch 15 ngày lại tháo cạn nước để tiện thu hoạch.

     7/ Phòng trừ sâu bệnh: Sâu bệnh chỉ gây hại khi có các điều kiện, yếu tố sinh thái thích hợp. Việc điều chỉnh các biện pháp kỹ thuật canh tác nêu trên theo hướng có lợi cho cây lúa nhưng bất lợi cho sâu bệnh hại, sẽ hạn chế sâu bệnh. Do vậy, chỉ phun thuốc theo kết quả điều tra đồng ruộng và khi sâu bệnh đến ngưỡng gây hại kinh tế.

     Kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI là kỹ thuật mở, mong rằng bà con nông dân sẽ thay đổi cách nghĩ, cách làm và lựa chọn những nguyên tắc phù hợp với điều kiện thực tế để áp dụng trên đồng ruộng của mình.